CHO THUÊ, MƯỢN CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÔNG?
Chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh hay còn được gọi là giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh được cấp cho cá nhân trên cơ sở đáp ứng các điều kiện về trình độ chuyên môn, năng lực hành nghề và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Do đó, người khác không thể sử dụng giấy phép hành nghề của người được cấp để thay thế cho điều kiện hành nghề của mình.
Việc cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi này không chỉ ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mà còn có thể làm phát sinh nguy cơ người không đáp ứng đầy đủ điều kiện hành nghề trực tiếp thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
Do đó, pháp luật hiện hành quy định chế tài xử phạt đối với cả người cho thuê, cho mượn và người thuê, mượn giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
1. Giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh là gì?
Theo khoản 5 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định: “Giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật này”.
Theo khoản 1 Điều 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, cá nhân được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, trong đó có điều kiện có giấy phép hành nghề đang còn hiệu lực và đã đăng ký hành nghề, trừ các trường hợp được pháp luật quy định.
Như vậy, giấy phép hành nghề là một trong những điều kiện pháp lý quan trọng để cá nhân được thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Giấy phép này gắn với chính người được cấp, không phải là loại giấy tờ có thể cho người khác thuê hoặc mượn để sử dụng.
2. Cho thuê, mượn giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh có vi phạm pháp luật không?
Theo khoản 16 Điều 7 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định hành vi: “Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề hoặc giấy phép hoạt động” là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Do đó, việc bác sĩ cho cá nhân, tổ chức hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuê, mượn giấy phép hành nghề để sử dụng nhằm đáp ứng điều kiện hành nghề hoặc điều kiện hoạt động là hành vi bị nghiêm cấm.
Tương tự, cá nhân thuê hoặc mượn giấy phép hành nghề của người khác để thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cũng có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
3. Vì sao pháp luật cấm cho thuê, mượn Giấy phép hành nghề?
3.1 Giấy phép hành nghề gắn với chính người được cấp
Giấy phép hành nghề được cấp trên cơ sở người hành nghề đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật về trình độ chuyên môn, năng lực và điều kiện hành nghề. Do đó, người khác không thể sử dụng giấy phép hành nghề của bác sĩ để thay thế cho điều kiện hành nghề của chính mình.
3.2. Bảo đảm người trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng điều kiện hành nghề
Theo Điều 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, người hành nghề phải có giấy phép hành nghề còn hiệu lực và đã đăng ký hành nghề, cùng các điều kiện khác theo quy định.
Việc thuê, mượn giấy phép hành nghề có thể dẫn đến tình trạng người trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh không phải là người được cấp giấy phép hoặc không đáp ứng đầy đủ các điều kiện hành nghề theo quy định.
3.3 Bảo đảm an toàn của người bệnh
Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh. Vì vậy, việc xác định đúng người hành nghề và phạm vi hành nghề là cơ sở để bảo đảm chất lượng chuyên môn, đồng thời xác định trách nhiệm của người hành nghề khi xảy ra vi phạm hoặc sự cố trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
4. Cho thuê, mượn giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bị xử phạt như thế nào?
4.1 Xử phạt vi phạm hành chính
Tùy theo mức độ vi phạm, người có hành vi cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn giấy phép hành nghề khám chữa bệnh có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành.
Theo điểm d và điểm đ khoản 7 Điều 38 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, hành vi:
- Thuê, mượn giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh để hành nghề;
- Cho người khác thuê, mượn giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;
bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Như vậy, cả người thuê, mượn và người cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề đều có thể bị xử phạt.
Ngoài phạt tiền, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung theo điểm d khoản 8 Điều 38 Nghị định 90/2026/NĐ-CP:
- Tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng.
Biện pháp khắc phục hậu quả:
Theo điểm b khoản 9 Điều 38 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, người vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
4.2 Trách nhiệm hình sự
Tùy thuộc vào phương thức thực hiện, mục đích, hậu quả và các tình tiết cụ thể của vụ việc, hành vi này có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu đồng thời đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự.
4.2.1 Tội lừa dối khách hàng theo Điều 198 Bộ luật hình sự
Trường hợp cá nhân, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng giấy phép hành nghề của bác sĩ khác để tạo cho khách hàng, người bệnh nhận thức sai lệch về người trực tiếp cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, từ đó thu tiền hoặc thu lợi bất chính, hành vi có thể được xem xét dưới góc độ Tội lừa dối khách hàng theo Điều 198 Bộ luật Hình sự nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Ví dụ, bác sĩ A được cấp giấy phép hành nghề nhưng không trực tiếp làm việc tại phòng khám. Phòng khám thuê giấy phép của A để đứng tên trong hồ sơ, quảng bá hoặc cung cấp dịch vụ, trong khi người trực tiếp khám bệnh lại là người khác. Nếu việc sử dụng thông tin, giấy phép của bác sĩ A được thực hiện nhằm làm cho người bệnh tin rằng họ đang được khám, chữa bệnh bởi bác sĩ A hoặc một người đáp ứng điều kiện chuyên môn tương ứng, từ đó thu lợi bất chính và đáp ứng các điều kiện của Điều 198 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội danh này.
Tùy thuộc tính chất và mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 Điều 198, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4.2.2 Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh theo Điều 315 Bộ luật hình sự
Nếu việc thuê, mượn giấy phép hành nghề được sử dụng để thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trái quy định và trong quá trình đó gây ra hậu quả nghiêm trọng thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 315 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác.
Chẳng hạn, một người không có giấy phép hành nghề nhưng sử dụng giấy phép của bác sĩ khác để trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh và trong quá trình thực hiện hành vi đã vi phạm quy định chuyên môn, dẫn đến hậu quả làm chết người hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh theo mức luật định. Khi đó, ngoài việc xem xét hành vi thuê, mượn hoặc cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 315 Bộ luật Hình sự nếu có đủ căn cứ.
Cho thuê, mượn Giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh là hành vi vi phạm nghiêm trọng cả về pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp. Việc xử phạt nghiêm minh không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi người bệnh mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và tạo ra môi trường hành nghề minh bạch, công bằng. Mỗi cá nhân, tổ chức cần ý thức rõ ràng và nghiêm túc tuân thủ các quy định của pháp luật để góp phần xây dựng một nền y tế an toàn, chuyên nghiệp và phát triển bền vững.
