TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC QUA FACEBOOK BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

    TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC QUA FACEBOOK BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

     Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm được quy định tại “Điều 20 Hiến pháp năm 2013”. Theo đó có thể thấy, con người không chỉ cần tính mạng, sức khỏe mà danh dự nhân phẩm đối với con người cũng là vô giá và cần được bảo vệ. Bôi nhọ, sỉ nhục danh dự và nhân phẩm của người khác được coi là tội làm nhục người khác quy định trong “ Điều 155 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017”. Sau đây Văn phòng Ls. Nhật Bình sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề này:

    Căn cứ pháp lý:

    • Hiến pháp năm 2013;
    • Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

    Nội dung tư vấn:

    1. Các yếu tố cấu thành tội phạm của “ tội làm nhục người khác”

    Mặt khách quan của tội làm nhục người khác:

    Mặt khách quan của tội này được thể hiện qua các hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác dưới các hình thức sau đây:

    • Thể hiện bằng lời nói: Như sỉ nhục, chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu, lăng mạ, lột quần áo giữa đám đông… nhằm vào nhân cách danh dự với tính chất hạ thấp nhân cách, danh dự của người bị hại, đồng thời làm cho người bị hại cảm thấy nhục nhã trước người khác.
    • Thể hiện bằng việc làm: Như có những hành vi bỉ ổi (có hoặc không kèm lời nói thô tục) với chính bản thân mình hoặc người bị hại trước đám đông để bêu rếu. Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình.

    Tất cả những hành vi, thủ đoạn trên chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi làm nhục người khác lại cấu thành một tội độc lập thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện. Đặc trưng của hành vi nêu trên thường là diễn ra trực tiếp, công khai và trước nhiều người.

    Lưu ý: Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục nhưng có người lại thấy bình thường. Về phía người phạm tội cũng có nhận thức tương tự, họ cho rằng với hành vi như thế thì người bị làm nhục sẽ nhục hoặc rất nhục nhưng người bị hại lại thấy chưa bị nhục. Nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác mà phải kết hợp với các yếu tố như trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình… Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

    Khách thể của tội làm nhục người khác:

    Hành vi của tội phạm làm nhục người khác nêu trên xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

    Mặt chủ quan của tội làm nhục người khác:

    Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

    Chủ thể của tội làm nhục người khác:

    Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Người từ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm về hành vi này do không thuộc trường hợp quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự về các hành vi mà người ở độ tuổi này phải chịu trách nhiệm.

    1. Quy định pháp luật xử lý với hành vi bôi nhọ, sỉ nhục nhân phẩm người khác trên Facebook

    Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể thực hiện bằng lời nói hoặc bằng hành động. Thông thường lời nói được sử dụng là lời nói có tính chất miệt thị, sỉ nhục người khác, hành động được sử dụng có tính chất bỉ ổi, sỉ nhục người khác. Tuy nhiên, hiện nay hành vi này được thể hiện bằng rất nhiều cách khác nhau, hành vi sử dụng Facebook để bôi nhọ danh dự của người khác cũng được xem là sự thể hiện của hành vi làm nhục  người khác.

    Theo đó Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 03/ 11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Có quy định về hành vi: “cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác” sẽ bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; (Điểm g Khoản 3 Điều 66); hành vi “giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác” sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (Điểm đ Khoản 3 Điều 64).

    1. Tùy mức độ vi phạm sẽ áp dụng điều luật để xử lý

    Người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm danh dự người khác dưới mọi hình thức.

    Ví dụ: đưa lên trang mạng internet hình ảnh riêng tư mang tính bêu rếu làm nhục người khác hoặc có hành động ghen tuông, đã lột hết quần áo của người khác ở nơi đông người nhằm làm nhục họ…

    Chỉ coi là tội phạm khi đánh giá hành vi đó đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm danh dự người khác. Việc đánh giá này các cơ quan Tư pháp phải dựa vào nhiều yếu tố khác nhau như hành vi cụ thể, tác động xã hội, đạo đức xã hội…phản ứng của dư luận…

    Lỗi của người phạm tội là cố ý trực tiếp , mong muốn hạ thấp nhân phẩm danh dự người khác.

    Điều 155 quy định các khung hình phạt sau đây:

    – Người phạm tội bị cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

    – Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Đối với người đang thi hành công vụ; Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình; Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

    Trong khoản 2 Điều 155 BLHS năm 2015 được tách riêng phù hợp với nguyên tắc cá thể hóa TNHS trong luật , từ đó thuận lợi cho việc áp dụng. Đồng thời nhà làm luật đã bổ sung tình tiết tăng nặng định khung “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông phương tiện điện tử để phạm tội; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. Đây là việc bổ sung cần thiết vì trong điều kiện hiện nay, thông qua mạng máy tính, phương tiện điện tử có thể loan truyền nhanh và diện rộng lớn gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhân phẩm, danh dự…của người khác. Đồng thời, thực tiễn vừa qua cho thấy nhiều người do bị làm nhục mà dẫn đến trầm cảm suy sụp về tinh thần, gây rối loạn hành vi của nạn nhân nên phải coi đây là tình tiết tăng nặng TNHS là hợp lý.

    – Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Làm nạn nhân tự sát.

    Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

     “1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
    a) Phạm tội 02 lần trở lên;
    b) Đối với 02 người trở lên
    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    d) Đối với người đang thi hành công vụ;
    đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
    e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
    a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên
    b) Làm nạn nhân tự sát.
    4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Hy vọng bài viết trên sẽ có ích ccho bạn! Nếu có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý khác vui lòng liên hệ với chúng tôi để được Luật sư hỗ trợ tư vấn, giải đáp những thắc mắc mà bận đang vướng phải. Thông tin liên hệ:

    Mọi thông tin cần hỗ trợ, tư vấn xin vui lòng liên hệ:

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ NHẬT BÌNH

    Nhat Binh Law - NBL
    Add   : 125K đường số 14, P. Bình Hưng Hòa A, Q. Bình Tân, TP.HCM
    Tel     : +84-28-6658.8181, Hotline: 0907.299.951 (Mr. Luật sư Huỳnh Trung Hiếu)
    Email : nhatbinhlaw@gmail.com
    Website: luatsurienghcm.com

    Download file

    GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT

    ĐĂNG KÝ NHẬN TIN